Quy định bảo hiểm xã hôi.

Câu hỏi:

chao luat su cho e hỏi ạ:
e nghi bên cty hồi tháng 4, e chưa rút sổ bây giờ e đi rút có được không ạ, e co
thể nhận tien bhtn duoc không ạ.

Trả lời:

Quy định về rút tiền bảo hiểm xã hội.

Về trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động
được quy định tại Điều 47 Bộ luật lao động 2012 như sau:
“2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động,
hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền
lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá
30 ngày.
3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả
lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã
giữ lại của người lao động.”
Theo quy định trên, thời gian tối đa sau khi chấm dứt hợp đồng lao động,
người sử dụng lao động có thời gian tối đa là không quá 30 ngày để hoàn
thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm, những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.
Việc xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội là trách nhiệm, nghĩa vụ của người
sử dụng lao động. Nếu bên công ty chưa trả sổ bảo hiểm cho bạn bạn có thể
lên công ty để yêu cầu để được trả sổ bảo hiểm xã hội.
Nếu trong trường hợp người sử dụng lao động cố tình không trả sổ, người lao
động có quyền thực hiện khiếu nại đến người giải quyết khiếu nại lần đầu theo
quy định tại khoản 1 Điều 15 Nghị định hoặc khởi kiện tại tòa án theo quy
định tại điểm a khoản 2 Điều 10 Nghị định 24/2018/NĐ- CP quy định về giải
quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực lao động, giáo dục nghề nghiệp, hoạt
động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng,
việc làm, an toàn, vệ sinh lao động. Trường hợp người sử dụng lao động cố
tình gây khó dễ cho người lao động có thể bị xử phạt theo quy định tại Khoản
21 Điều 1 Nghị định 88/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị
định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2013 của Chính Phủ quy định
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội đưa
người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Về điều kiện được hưởng trợ cấp thất nghiệp được quy định tại Điều 49 Luật
Việc làm năm 2013:
“Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo
hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau
đây:
1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp
sau đây:
a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm
việc trái pháp luật;
b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;
2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với
trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này; đã
đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng
trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại điểm c
khoản 1 Điều 43 của Luật này;
3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo
quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này;
4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm
thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:
a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;
b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;
c) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ
sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
d) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;
đ) Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;
e) Chết.”
Như vậy, điều kiện để được hưởng trợ cấp thất nghiệp bao gồm 4 điều kiện.
Để được hưởng đầu tiên người lao động phải chấm dứt hợp đồng lao động,
hợp đồng làm việc trừ trường hợp do người lao động đơn phương chấm dứt
hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật hoặc người lao động
đang hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hàng tháng.
Điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp:
– Đối với hợp đồng lao động có xác định và không xác định thời hạn thì
người lao động phải đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên
trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động.
– Đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất
định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng thì người lao động phải đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian
36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động.
Như vậy cần phải xác định hợp đồng lao động của người lao động là loại hợp
đồng gì, sau đó xác định rằng thời gian 24 tháng hoặc 36 tháng trước khi
chấm dứt hợp đồng lao động có đóng từ đủ 12 tháng trở lên hay không.
Điều kiện để được hưởng bảo hiểm thất nghiệp là trong thời hạn 03 tháng, kể
từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người lao động
nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm do cơ quan
quản lý nhà nước về việc làm thành lập bao gồm:
“1. Đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Lao động –
Thương binh và Xã hội quy định.
2. Bản chính hoặc bản sao có chứng thực của một trong các giấy tờ sau đây
xác nhận về việc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc:
a) Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã hết hạn hoặc đã hoàn thành
công việc theo hợp đồng lao động;
b) Quyết định thôi việc;
c) Quyết định sa thải;
d) Quyết định kỷ luật buộc thôi việc;
đ) Thông báo hoặc thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng
làm việc.
Trường hợp người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại
Điểm c Khoản 1 Điều 43 Luật Việc làm thì giấy tờ xác nhận về việc chấm dứt
hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời
hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng là bản chính hoặc bản sao có chứng
thực của hợp đồng đó.
3. Sổ bảo hiểm xã hội.

Tổ chức bảo hiểm xã hội thực hiện xác nhận về việc đóng bảo hiểm thất
nghiệp và trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động trong thời hạn 05 ngày
làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị của người sử dụng lao động.
Đối với người sử dụng lao động là các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp thuộc
Bộ Quốc phòng, Bộ Công an thì trong thời hạn 30 ngày, Bảo hiểm xã hội Bộ
Quốc phòng, Bảo hiểm xã hội Công an nhân dân thực hiện xác nhận về việc
đóng bảo hiểm thất nghiệp và trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động kể từ
ngày nhận được đề nghị của người sử dụng lao động.”
Ngoài ra, để được hưởng bảo hiểm thất nghiệp thì người lao động phải chưa
tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất
nghiệp, trừ các trường hợp sau đây: Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ
công an; Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên; Chấp hành quyết định
áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở
cai nghiện bắt buộc; Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù; Ra nước ngoài định
cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng; Chết.
Như vậy, để được hưởng bảo hiểm thất nghiệp thì phải đáp ứng tất cả các điều
kiện trên, phải nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp trong vòng 3 tháng kể từ
ngày chấm dứt hợp đồng lao động. Để có thể hưởng được trợ cấp thất nghiệp
bạn phải rút được sổ bảo hiểm xã hội ở công ty cũ để hoàn thành hồ sơ hưởng
trợ cấp thất nghiệp.

Xem chi tiết tại: https://luatnqh.vn/

Leave a Reply